CIFOR-ICRAF publie chaque année plus de 750 publications sur l’agroforesterie, les forêts et le changement climatique, la restauration des paysages, les droits, la politique forestière et bien d’autres sujets encore, et ce dans plusieurs langues. .

CIFOR-ICRAF s’attaque aux défis et aux opportunités locales tout en apportant des solutions aux problèmes mondiaux concernant les forêts, les paysages, les populations et la planète.

Nous fournissons des preuves et des solutions concrètes pour transformer l’utilisation des terres et la production alimentaire : conserver et restaurer les écosystèmes, répondre aux crises mondiales du climat, de la malnutrition, de la biodiversité et de la désertification. En bref, nous améliorons la vie des populations.

Mức sẵn lòng chi trả dịch vụ môi trường rừng ngập mặn tại Việt Nam: Trường hợp nghiên cứu tại Hải Phòng

Mức sẵn lòng chi trả dịch vụ môi trường rừng ngập mặn tại Việt Nam: Trường hợp nghiên cứu tại Hải Phòng

Thông điệp chính

  • Đa số tàu cá và tàu du lịch được phỏng vấn sẵn sàng chi trả để bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn bởi theo họ rừng ngập mặn cung cấp các dịch vụ chính như vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ đê điều, và bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Trung bình, tàu du lịch sẵn sàng trả 0.45 triệu đồng/năm và tàu cá sẵn sàng trả 0.58 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, nếu chúng ta phân tích sự sẵn lòng chi trả bằng mô hình logit, thì sự sẵn sàng chi trả trung bình của tàu cá là 1.376 triệu đồng.
  • Mức độ sẵn lòng chi trả của tàu cá và tàu du lịch phụ thuộc vào thu nhập hàng năm, chi phí hoạt động của họ và kích cỡ tàu sở hữu.
  • Câu hỏi ai sẽ thu phí và cách quản lý quỹ cũng đã được thảo luận với các bên liên quan tại địa phương. Theo họ, việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có thể thông qua ban quản lí cảng, bộ đội biên phòng hoặc chi cục thủy sản. Tuy nhiên, hầu hết những người được phỏng vấn đều cho rằng bộ đội biên phòng phù hợp hơn vì hiện bộ đội biên phòng đã có kinh nghiệm hỗ trợ chính quyền địa phương thu thuế, phí môi trường và quản lý trực tiếp tàu thuyền.
  • Cần có các nghiên cứu ở các địa điểm khác tại Việt Nam và với các nhóm cung cấp dịch vụ môi trường khác để xác nhận tính khả thi của chương trình này.

Download:

This work is licensed under CC-BY 4.0
DOI:
https://doi.org/10.17528/cifor/007868
Score Altmetric:
Dimensions Nombre de citations:


Exporter la citation:
TI  - Mức sẵn lòng chi trả dịch vụ môi trường rừng ngập mặn tại Việt Nam: Trường hợp nghiên cứu tại Hải Phòng 
AU  - Pham, T.T. 
AU  - Nguyễn, D.T. 
AU  - Nguyễn, D.H. 
AU  - Trần, Y.L. 
AU  - Nguyễn, T.T.Q. 
AU  - Nguyễn, T.A 
AU  - Hoàng, T.L. 
AU  - Đào Thị, L.C. 
AB  - Thông điệp chính

Đa số tàu cá và tàu du lịch được phỏng vấn sẵn sàng chi trả để bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn bởi theo họ rừng ngập mặn cung cấp các dịch vụ chính như vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ đê điều, và bảo tồn đa dạng sinh học.
Trung bình, tàu du lịch sẵn sàng trả 0.45 triệu đồng/năm và tàu cá sẵn sàng trả 0.58 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, nếu chúng ta phân tích sự sẵn lòng chi trả bằng mô hình logit, thì sự sẵn sàng chi trả trung bình của tàu cá là 1.376 triệu đồng.
Mức độ sẵn lòng chi trả của tàu cá và tàu du lịch phụ thuộc vào thu nhập hàng năm, chi phí hoạt động của họ và kích cỡ tàu sở hữu.
Câu hỏi ai sẽ thu phí và cách quản lý quỹ cũng đã được thảo luận với các bên liên quan tại địa phương. Theo họ, việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có thể thông qua ban quản lí cảng, bộ đội biên phòng hoặc chi cục thủy sản. Tuy nhiên, hầu hết những người được phỏng vấn đều cho rằng bộ đội biên phòng phù hợp hơn vì hiện bộ đội biên phòng đã có kinh nghiệm hỗ trợ chính quyền địa phương thu thuế, phí môi trường và quản lý trực tiếp tàu thuyền.
Cần có các nghiên cứu ở các địa điểm khác tại Việt Nam và với các nhóm cung cấp dịch vụ môi trường khác để xác nhận tính khả thi của chương trình này.
 
PY  - 2020 
PB  - Center for International Forestry Research (CIFOR) 
PP  - Bogor, Indonesia 
UR  - https://www.cifor-icraf.org/knowledge/publication/7868/ 
DO  - https://doi.org/10.17528/cifor/007868 
KW  - biodiversity conservation, development policy, ecosystem services, fisheries, fishing vessels, mangroves 
ER  -
%T Mức sẵn lòng chi trả dịch vụ môi trường rừng ngập mặn tại Việt Nam: Trường hợp nghiên cứu tại Hải Phòng 
%A Pham, T.T. 
%A Nguyễn, D.T. 
%A Nguyễn, D.H. 
%A Trần, Y.L. 
%A Nguyễn, T.T.Q. 
%A Nguyễn, T.A 
%A Hoàng, T.L. 
%A Đào Thị, L.C. 
%D 2020 
%I Center for International Forestry Research (CIFOR) 
%C Bogor, Indonesia 
%U https://www.cifor-icraf.org/knowledge/publication/7868/ 
%R https://doi.org/10.17528/cifor/007868 
%X Thông điệp chính

Đa số tàu cá và tàu du lịch được phỏng vấn sẵn sàng chi trả để bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn bởi theo họ rừng ngập mặn cung cấp các dịch vụ chính như vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ đê điều, và bảo tồn đa dạng sinh học.
Trung bình, tàu du lịch sẵn sàng trả 0.45 triệu đồng/năm và tàu cá sẵn sàng trả 0.58 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, nếu chúng ta phân tích sự sẵn lòng chi trả bằng mô hình logit, thì sự sẵn sàng chi trả trung bình của tàu cá là 1.376 triệu đồng.
Mức độ sẵn lòng chi trả của tàu cá và tàu du lịch phụ thuộc vào thu nhập hàng năm, chi phí hoạt động của họ và kích cỡ tàu sở hữu.
Câu hỏi ai sẽ thu phí và cách quản lý quỹ cũng đã được thảo luận với các bên liên quan tại địa phương. Theo họ, việc thu tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có thể thông qua ban quản lí cảng, bộ đội biên phòng hoặc chi cục thủy sản. Tuy nhiên, hầu hết những người được phỏng vấn đều cho rằng bộ đội biên phòng phù hợp hơn vì hiện bộ đội biên phòng đã có kinh nghiệm hỗ trợ chính quyền địa phương thu thuế, phí môi trường và quản lý trực tiếp tàu thuyền.
Cần có các nghiên cứu ở các địa điểm khác tại Việt Nam và với các nhóm cung cấp dịch vụ môi trường khác để xác nhận tính khả thi của chương trình này.
 
%K biodiversity conservation 
%K development policy 
%K ecosystem services 
%K fisheries 
%K fishing vessels 
%K mangroves